Thẻ: thời gian làm việc

  • Tính chế độ thôi việc cho NLĐ từ thời điểm nào?

    Tính chế độ thôi việc cho NLĐ từ thời điểm nào?

    Trường hợp ông Tới nêu, công ty phải chi trả các quyền lợi liên quan cho ông từ thời điểm tuyển dụng lần cuối (năm 1994) đến ngày chấm dứt hợp đồng lao động

    Lê Văn Tới (tỉnh An Giang) hỏi: “Tôi làm việc cho chi nhánh của một doanh nghiệp nhà nước từ năm 1994. Năm 2012, công ty chuyển đổi chi nhánh thành công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu và tôi vẫn tiếp tục làm việc tại đây. Mới đây, công ty tôi tiến hành cổ phần hóa, xếp tôi vào diện lao động dôi dư và dự kiến sẽ chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) vào tháng 1-2020. Vậy khi tôi nghỉ việc, mốc thời gian để tính các chế độ liên quan (chế độ thôi việc) mà công ty phải thanh toán cho tôi được tính từ năm 1994 hay 2012?”.

    Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời: 

    Theo quy định tại điều 31 Bộ Luật Lao động năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006 và 2007 thì trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện HĐLĐ với người lao động (NLĐ).

    Mặt khác, tại điều 2 Nghị định 63/2015/NĐ-CP quy định NLĐ được tuyển dụng lần cuối cùng vào công ty trước ngày 21-4-1998 có tên trong danh sách thường xuyên của công ty mà khi thực hiện cổ phần hóa không bố trí được việc làm thì được hưởng các chính sách đối với NLĐ dôi dư.

    Thời gian làm việc để tính chế độ đối với NLĐ dôi dư được thực hiện theo quy định tại điều 6 Nghị định 63/2015/NĐ-CP và điều 4 Thông tư 44/2015/TT-BLĐTBXH.

    Căn cứ các quy định trên, ở trường hợp ông Tới nêu, công ty phải chi trả các quyền lợi liên quan cho ông từ thời điểm tuyển dụng lần cuối (năm 1994) đến ngày chấm dứt HĐLĐ.

    (Nguồn. Báo luật lao động)

  • Toàn bộ người lao động sẽ được nghỉ làm chiều thứ 7?

    Toàn bộ người lao động sẽ được nghỉ làm chiều thứ 7?

    Rất nhiều người lao động trong các doanh nghiệp hiện nay phải làm việc cả ngày thứ 7, chỉ được nghỉ ngày chủ nhật. Trong thời gian tới, có thể bộ phận người lao động này sẽ chỉ phải làm việc buổi sáng thứ 7.

    Điều 107 của dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi đưa ra 02 phương án về thời giờ làm việc bình thường của người lao động.

    Phương án 1: Về cơ bản giữ nguyên như hiện nay

    – Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ/ngày và không quá 48 giờ/tuần;

    – Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết, trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ/ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần;

    – Người sử dụng lao động phải bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại theo các quy chuẩn kỹ thuật liên quan (nội dung mới)

    – Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ.

    Phương án 2: Giảm 4 giờ làm việc/tuần

    – Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong một ngày và không quá 44 giờ trong một tuần;

    – Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết, trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày, nhưng không quá 44 giờ trong 01 tuần.

    – Thời giờ làm việc bình thường không quá 06 giờ trong một ngày đối với những người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo Danh mục của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành.

    Như vậy, nếu như phương án 2 được thông qua, rất nhiều người lao động đang làm việc đủ 48 giờ/tuần hiện nay sẽ được giảm 04 giờ làm việc/tuần. Theo đó, những người lao động này sẽ được nghỉ làm chiều thứ 7, chỉ phải làm sáng thứ 7.

    (Nguồn. Luatvietnam)