Thẻ: mức lương cơ bản

  • Quản lý nhân sự lương bao nhiêu – Mức lương cơ bản nghề nhân sự

    Quản lý nhân sự lương bao nhiêu – Mức lương cơ bản nghề nhân sự

    Vừa qua, Quanlynhansu.info nhận được rất nhiều câu hỏi về việc ” Quản lý nhân sự lương bao nhiêu? Mức lương cơ bản của một nhân viên nhân sự như thế nào ở nhiều vị trí khác nhau?

    Quản lý nhân sự lương bao nhiêu

    Quanlynhansu.info giải đáp thắc mắc: 

    Theo tình hình hiện nay, một sinh viên ra trường làm nghề nhân sự mức lương tối thiểu 5 triệu đồng/tháng và có thể cao hơn tùy thuộc vào khả năng, kinh nghiệm làm việc. Và để biết chi tiết hơn, các bạn có thể tham khảo “Bảng thống kê mức lương/tháng” tại từng vị trí trong ngành nhân sự sau đây:

    Giám đốc nhân sự (CHRO)

    • Điều kiện: PG/MBA hoặc MCS có kinh nghiệm từ 10 – 25 năm
    • Mức lương: 30 – 100 triệu/tháng
    • Đối với những tập đoàn lớn của nước ngoài đang trả lương 4000 USD/tháng

    Giám đốc khu vực

    • Điều kiện: PG/MBA hoặc MCS kinh nghiệm thực tế từ 15 – 20 năm
    • Mức lương: 25 – 80 triệu/tháng

    Trường phòng tiền lương và phúc lợi

    • Điều kiện: Cử nhân tài chính, kế toán, quản lý nhân lực, quản trị kinh doanh.. kinh nghiệm trên 8 – 12 năm
    • Mức lương: Dao động 20 – 40 triệu/tháng

    Trưởng phòng nhân sự

    • Điều kiện: Thạc sĩ, cử nhân ngành nhân sự, kinh nghiệm 3 – 8 năm
    • Mức lương: Trung bình khoảng 15 – 45 triệu/tháng

    Phó phòng nhân sự

    • Điều kiện: Thạc sĩ, cử nhân ngành nhân sự, kinh nghiệm 3 – 6 năm
    • Mức lương: Khoảng 12 – 30 triệu/tháng

    Giám sát nhân sự

    • Điều kiện: Thạc sĩ, cử nhân ngành nhân sự, kinh nghiệm từ 2 – 5 năm
    • Mức lương: Khoảng 10 – 20 triệu/tháng

    Chuyên viên nhân sự

    • Điều kiện: Thạc sĩ, cử nhân ngành nhân sự, kinh nghiệm 2 – 5 năm
    • Mưc lương: 5 – 12 triệu/tháng

    Quản trị, trợ lý thực tập

    • Điều kiện: Thạc sĩ, cử nhân ngành nhân sự, kinh nghiệm 1 – 3 năm
    • Mức lương: 5 – 10 triệu/tháng

    > Tham khảo: Quản lý nhân sự trong cuộc cách mạng 4.0

    > Tham khảo: Phần mềm quản lý nhân sự hiệu quả

     

  • Tiền lương luỹ tiến làm thêm giờ – doanh nghiệp hay người lao động có lợi?

    Tiền lương luỹ tiến làm thêm giờ – doanh nghiệp hay người lao động có lợi?

    Quy định tính tiền lương luỹ tiến làm thêm giờ khiến người lao động muốn làm thêm để có nhiều thu nhập, dù bị ảnh hưởng tới sức khỏe. Ngược lại, doanh nghiệp phải tăng chi phí khi tổ chức làm thêm giờ. Vậy, xử lý bài toán này ra sao trong dự thảo sửa đổi Luật Lao động?

    Sau 3 lần tiếp thu và chỉnh lý, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung – Trưởng Ban soạn thảo dự án sửa đổi Luật Lao động 2012, đã có báo cáo gửi Uỷ Ban thường vụ Quốc hội trong việc tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội và ý kiến thẩm tra của Ủy ban về các vấn đề xã hội.

    Tăng thu nhập – giảm sức khoẻ

    Liên quan tới vấn đề tiền lương, một số đại biểu quốc hội đã đề nghị quy định cụ thể mức lương lũy tiến làm thêm giờ trong dự thảo Bộ luật.

    Đánh giá về đề xuất trên, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho rằng đây là một vấn đề mới và cần xem xét nhiều chiều.

    Phân tích của Ban soạn thảo cũng cho thấy, sự xuất hiện của cả tỉ lệ nghịch và thuận về lợi ích của các bên khi áp dụng quy định trên.

    Với quy định mức lương làm thêm giờ cao như hiện nay và nếu áp dụng thêm cách tính lũy tiến sẽ đồng nghĩa với việc kích thích người lao động mong muốn làm thêm nhiều giờ để có nhiều thu nhập.

    Tuy nhiên điều này lại không đạt được mục tiêu bảo vệ được sức khỏe cho người lao động. Về lâu dài, việc lạm dụng sẽ ảnh hưởng tới chất lượng làm việc và người lao động.

    Về góc độ doanh nghiệp, quy định mức lương làm thêm giờ lũy tiến gây khó cho doanh nghiệp bởi phải cân nhắc chi phí tổ chức làm thêm giờ trong bối cảnh tỷ lệ lao động chuyển việc cao.

    Đơn cử như đánh giá của các doanh nghiệp Nhật Bản, tỷ lệ nhảy việc của lao động Việt Nam mỗi năm vào khoảng 30%. Điều này cũng đồng nghĩa với tình trạng doanh nghiệp phải tuyển mới thay thế khoảng 30% trong năm.

    Việc này dẫn đến các doanh nghiệp phải tăng chi phí tuyển dụng, tăng chi phí đào tạo cho lao động mới tuyển. Nếu tiếp tục tăng chi phí làm thêm giờ sẽ tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp, làm tăng chi phí lao động và giảm tính cạnh tranh của thị trường lao động Việt Nam.

    Trong khi đó, Ban soạn thảo cho rằng quy định tổ chức làm thêm giờ nhiều khi không phải là điều mong muốn mà buộc phải làm, vì thiếu lao động để đáp ứng thời hạn hợp đồng.

    Áp dụng “cứng”: Nên hay không?

    Nhận định của Ban soạn thảo, ngoại trừ nhóm các doanh nghiệp FDI khắc phục được vì năng lực tổ chức và tiềm lực tài chính, công nghệ mạnh, quy định mức lương làm thêm giờ lũy tiến sẽ gây khó trong ngắn hạn.

    Với các doanh nghiệp trong nước, điều này càng không đơn giản.

    Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết: “Trường hợp áp dụng cách tính luỹ tiến sẽ gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp nội khi trình độ công nghệ không cao và năng lực tài chính, tổ chức hạn chế. Trong khi đó, cả nước có tới 98% doanh nghiệp với mô hình vừa, nhỏ và siêu nhỏ”.

    Đặc biệt, lĩnh vực dệt may và thủy sản được coi là hưởng lợi từ các Hiệp định thương mại thế hế hệ mới như CPTPP và EVFTA sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên.

    Nguy cơ các doanh nghiệp nội sẽ phải thu hẹp sản xuất, rút khỏi thị trường và thay vào đó là các doanh nghiệp ngoại. Quy định cao hơn nữa sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh về chi phí lao động của Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực, gây bất lợi cho doanh nghiệp nội.

    Trước việc phân tích như trên, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết: “Ban soạn thảo đề nghị giữ nguyên mức tiền lương làm thêm giờ như hiện nay và việc trả lương lũy tiến làm thêm giờ với mức lương cao hơn mức trên sẽ do hai bên thỏa thuận”.

    (Nguồn. Dantri)

  • Điểm mới về tiền lương trong Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi)

    Điểm mới về tiền lương trong Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi)

    Lương tối thiểu vùng được xây dựng trên 5 căn cứ, hoán đổi tiêu chí nhu cầu sống tối thiểu, bóc tách các khoản khi trả lương, trả lương cho người được uỷ quyền hợp pháp…

    Dự thảo Bộ luật Luật Lao động đang được lấy ý kiến, trong đó có nhiều quy định mới về tiền lương. Đáng lưu ý là 5 tiêu chí mới để xác định, điều chỉnh lương tối thiểu (LTT).

    Về mức lương tối thiểu

    Khoản 1 Điều 91 của Bộ luật Lao động hiện hành quy định: mức lương tối thiểu phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động (NLĐ) và gia đình họ. Thực tiễn thực hiện quy định này trong thời gian vừa qua cho thấy việc xác định nhu cầu sống tối thiểu là rất khó định lượng vì nhu cầu sống gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu về tinh thần. Trong khi, nhiều ý kiến chuyên gia đánh giá rằng mức LTT vùng hiện nay chưa đáp ứng được đầy đủ mức sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ.

    Quá trình soạn thảo, có ý kiến đề xuất: Sửa đổi quy định mức LTT theo hướng đảm bảo “mức sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ” và đề nghị bổ sung thêm các yếu tố xác định mức LTT vùng để làm căn cứ cho Hội đồng tiền lương quốc gia nghiên cứu đề xuất. Do vậy, dự thảo Luật hiện đang thể hiện theo Phương án trên tại Điều 91, 92 và bổ sung một điều mới 92.

    Dự thảo sửa đổi đã đưa ra khái niệm ngắn gọn hơn so với Luật hiện hành về LTT: “Mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn trong điều kiện lao động bình thường“.

    Trong khi đó, khái niệm về LTT trong Luật Lao động 2012 (hiện hành), ngoài thông tin trên còn được bổ sung thêm nội dung: “phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ”.

    Nội dung “đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ” đã được Dự thảo chuyển thành 1 trong 5 tiêu chí mới xác định, điều chỉnh LTT gồm: Mức sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ; Tương quan giữa lương tối thiểu và mức lương phổ biến của NLĐ trên thị trường; Chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế; Quan hệ cung, cầu lao động; việc làm và thất nghiệp; Năng suất lao động; khả năng chi trả của doanh nghiệp.

    Bên cạnh đó, Dự thảo quy định người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải tham khảo ý kiến tổ chức của NLĐ tại cơ sở khi xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động và công bố công khai tại nơi làm việc. Về trả lương, Dự thảo quy định việc trả bằng tiền Đồng Việt Nam, trừ trường hợp trả cho người không cư trú, người cư trú là người nước ngoài theo quy định của pháp luật về ngoại hối.

    Mỗi lần trả lương, NSDLĐ phải thông báo bảng kê trả lương cho NLĐ, gồm: Mức lương cơ bản; tiền trả làm thêm giờ và khoản tiền khác (nếu có); nội dung và tiền bị khấu trừ theo quy định tại của Bộ luật này.

    Quy định mới về lương

    Về tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm:

    Dự thảo quy định, NLĐ làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm như sau:

    • Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%.
    • Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%.
    • Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300%.

    Việc trả lương lũy tiến làm thêm giờ với mức lương cao hơn quy định ở khoản này thì do hai bên thỏa thuận để thực hiện.

    NLĐ làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày. NLĐ làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc được trả theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, NLĐ còn được trả thêm ít nhất bằng 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày. Về nguyên tắc, NSDLĐ trả lương trực tiếp cho NLĐ. Trường hợp bất khả kháng mà không thể thực hiện trả lương trực tiếp, Dự thảo quy định NSDLĐ có thể trả lương cho người được NLĐ ủy quyền hợp pháp.

    (Nguồn. Người lao động)

  • Dự thảo sửa đổi bộ luật lao động: Nới rộng khung giờ làm thêm: Phải tính toán kỹ

    Dự thảo sửa đổi bộ luật lao động: Nới rộng khung giờ làm thêm: Phải tính toán kỹ

    Nếu đạt được sự đồng thuận với người lao động, người sử dụng lao động phải bảo đảm tiền lương làm thêm giờ của người lao động được trả lũy tiến

    Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vừa hoàn tất dự thảo Bộ Luật Lao động sửa đổi. Trong đó, đáng lưu ý là Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất nới rộng khung thỏa thuận giữa người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ) về giờ làm thêm tăng lên tối đa 400 giờ mỗi năm (thay vì không quá 300 giờ như quy định hiện hành). Đề xuất này đang nhận được nhiều ý kiến trái chiều.

    Việc nới rộng khung giờ làm thêm phải tính toán đến sức khỏe người lao động

    Tăng ca do nhu cầu cuộc sống thúc ép

    Một thực tế không thể phủ nhận là mức lương tối thiểu hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu tối thiểu của NLĐ và gia đình, buộc họ phải tăng ca để tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống. Rõ ràng, tăng ca là điều không một công nhân (CN) nào mong muốn mà là do cuộc sống thúc ép.

    Chị Lê Thị Trúc – CN một doanh nghiệp (DN) chuyên may gia công tại quận Bình Tân, TP HCM – chia sẻ: “Lập gia đình và có con nhỏ, chúng tôi rất muốn về sớm để có thời gian chăm sóc gia đình. Nếu luật cho phép tăng số giờ làm thêm thì DN sẽ có cơ sở để yêu cầu CN làm thêm nhiều hơn, như vậy sẽ gây xáo trộn đến đời sống CN. Tôi nghĩ ban soạn thảo phải tính toán kỹ với đề xuất này, nếu tăng ca nhiều sẽ để lại nhiều hệ lụy”.

    Chị Lê Thị Thu đang làm việc tại KCX Linh Trung I (quận Thủ Đức, TP HCM) bộc bạch: “Ngoài mức lương cơ bản khoảng 4,5 triệu đồng/tháng, cộng thêm tiền tăng ca khoảng 1,5 triệu đồng và các khoản phụ cấp, mỗi tháng thu nhập của tôi chưa đến 7 triệu đồng. Khoản thu nhập này vẫn không đủ trang trải chi phí sinh hoạt. Việc tăng ca nhiều cũng khiến CN không có thời gian nghỉ ngơi để tái tạo sức lao động” – chị Thu cho biết. Theo chị Thu, để bảo đảm sức khỏe cho NLĐ, không nên mở rộng khung giờ làm thêm mà chỉ nên giữ nguyên quy định hiện hành.

    Cần quy định rõ từng ngành nghề

    Theo các chuyên gia lao động, nhu cầu làm thêm chủ yếu rơi vào nhóm DN thâm dụng lao động (dệt may, giày da). Đơn hàng từ đối tác của nhóm các DN này thường không ổn định dẫn đến việc phải hoàn thành gấp, từ đó chủ sử dụng lao động buộc phải thỏa thuận tăng ca với NLĐ. Khảo sát của Tổng LĐLĐ Việt Nam cho thấy ngành may là điển hình của tình trạng tăng ca nhiều. Thời gian tăng ca trung bình từ 47- 60 giờ/tháng (quy định là 30 giờ/tháng). Tính trung bình, các DN đã cho NLĐ làm thêm giờ lên tới 500 giờ/năm, thậm chí 600 giờ/năm.

    Theo luật sư Đặng Anh Đức (Giám đốc Công ty Luật TNHH Đặng và Cộng sự), quy định về giờ làm thêm như trong luật hiện hành chưa phù hợp với thực tế. Ở một số ngành nghề như dệt may, da giày, chế biến thủy sản…, công việc phụ thuộc chủ yếu vào đơn hàng. Khi đơn hàng gấp thì DN buộc phải huy động NLĐ làm thêm giờ.

    Do vậy, khi tính toán nới rộng khung giờ làm thêm, cần quy định rõ từng ngành nghề được phép áp dụng tối đa số giờ làm thêm ở mức 400 giờ/năm. “Trong trường hợp cần hoàn thành gấp đơn hàng, DN cần thỏa thuận tăng ca với NLĐ. Nếu đạt được sự đồng thuận với NLĐ, DN cũng phải bảo đảm tiền lương làm thêm giờ của NLĐ được trả lũy tiến” – luật sư Đức góp ý.

    (Nguồn. Người lao động)

  • Từ ngày 1-7- 2019, mức lương cơ sở tăng lên 1.490.000 đồng/tháng

    Từ ngày 1-7- 2019, mức lương cơ sở tăng lên 1.490.000 đồng/tháng

    Chính phủ ban hành Nghị định 38/2019/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

    Theo đó, quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội và hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở cấp huyện, ở cấp xã, ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang.

    Từ ngày 1-7- 2019, mức lương cơ sở tăng lên 1.490.000 đồng/tháng

    Từ ngày 1-7-2019, mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng/tháng (tăng 100.000 đồng/tháng so với quy định hiện hành).

    Mức lương cơ sở này dùng làm căn cứ để:

    – Tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này;

    – Tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật;

    – Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.

    (Nguồn. Người lao động)