Thẻ: BLLĐ 2019

  • Thanh toán tiền nghỉ phép năm thế nào từ năm 2021?

    Thanh toán tiền nghỉ phép năm thế nào từ năm 2021?

    Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 đã có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021 với nhiều quy định mới liên quan đến chế độ nghỉ phép của người lao động. Vậy theo quy định mới, tiền phép năm của người lao động được thanh toán thế nào?

    Chỉ còn 2 trường hợp được thanh toán tiền nghỉ phép năm

    Khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 đã nêu rõ về việc thanh toán tiền nếu chưa nghỉ hết ngày phép như sau:

    Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.

    Theo đó, chỉ có 02 trường hợp chưa nghỉ hết ngày phép trong năm được người sử dụng lao động thanh toán tiền nghỉ phép năm là do: Thôi việc hoặc bị mất việc làm

    Trong khi đó, trước đây, tại khoản 1 Điều Điều 144 BLLĐ năm 2012, ngoài 02 trường hợp trên, người lao động “vì lý do khác” mà chưa nghỉ hết số ngày phép năm cũng được thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.

    Như vậy, từ năm 2021, người lao động chưa nghỉ hết phép năm mà vẫn tiếp tục làm việc sẽ không được thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ mà chỉ thanh toán tiền nghỉ phép năm cho người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm.

    Xem thêm : Mẫu đơn xin nghỉ phép

    Cách tính lương những ngày phép chưa nghỉ

    Nghị định 145/2020/NĐ-CP (có hiệu lực ngày 01/01/2021) đã hướng dẫn cụ thể cách tính tiền lương những ngày người lao động chưa nghỉ hết phép tại khoản 3 Điều 67 Nghị định này như sau:

    Tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm theo khoản 3 Điều 113 của Bộ luật Lao động là tiền lương theo hợp đồng lao động của tháng trước liền kề tháng người lao động thôi việc, bị mất việc làm.

    Cụ thể, tiền lương ngày phép chưa nghỉ được tính theo công thức sau:

    Tiền lương ngày phép chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết

    =

    Tiền lương theo hợp đồng lao động của tháng trước liền kề

    :

    Số ngày làm việc bình thường của tháng trước liền kề

    x

    Số ngày chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết

    Ví dụ: Anh A nghỉ việc tại công ty N từ ngày 01/8/2021. Trong năm 2021, tính đến hết ngày 31/7/2021, anh A có 07 ngày phép nhưng đã nghỉ mất 02 ngày. Mức lương theo theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động tại thời điểm tháng 7/2021 là 10 triệu đồng/tháng. Trong tháng này, số ngày làm việc bình thường là 22 ngày.

    Theo đó, anh A còn 05 ngày nghỉ phép. Khi nghỉ việc tại công ty N, anh A sẽ được thanh toán tiền lương chưa nghỉ phép như sau:

    10 triệu đồng : 22 ngày làm việc x 5 ngày chưa nghỉ = 2,27 triệu đồng

    Thanh toán tiền nghỉ phép năm thế nào
    Thanh toán tiền nghỉ phép năm thế nào

    Chưa nghỉ hết phép năm, làm sao để không bị thiệt?

    Như đã phân tích, từ năm 2021, chưa nghỉ hết phép năm mà vẫn tiếp tục làm việc ở doanh nghiệp thì không còn được thanh toán tiền lương cho những ngày này. Do đó, để không bị thiệt, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ vào các năm tiếp theo nhưng chỉ được nghỉ gộp tối đa 03 năm/lần.

    Cách giải quyết này được ghi nhận cụ thể tại khoản 4 Điều 113 BLLĐ năm 2019:

    Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

    Theo đó, nếu chưa nghỉ hết phép năm, người lao động được thỏa thuận với doanh nghiệp để dồn phép vào năm sau hoặc năm sau nữa, miễn đảm bảo nghỉ gộp 03 năm/lần.

    Thực tế, theo quy chế riêng của doanh nghiệp, hầu hết đều cho phép người lao động sử dụng số ngày phép còn lại của năm trước cho đến hết quý I năm sau, kể cả không thỏa thuận về việc gộp phép. Như vậy, người lao động có thể nghỉ “nốt” phép trong 03 tháng đầu của năm kế tiếp.

    Trong đó, lịch Tết Âm lịch Tân Sửu 2021 tới đây rơi vào giữa tháng 02/2021 nên người lao động có thể tận dụng nốt số ngày phép còn lại dồn vào dịp nghỉ này để có thời gian nghỉ dài hơn, thuận tiện cho việc về quê hay các hoạt động vui chơi, giải trí…

    Trên đây là những phân tích liên quan đến thanh toán tiền nghỉ phép năm dành cho người lao động và hướng dẫn cách dồn phép để không bị thiệt thòi.

    TheoLuatVietnam

  • Doanh Nghiệp Yêu Cầu Ký Hợp Đồng Thử Việc 2 Lần Có Được Không ?

    Doanh Nghiệp Yêu Cầu Ký Hợp Đồng Thử Việc 2 Lần Có Được Không ?

    Trước khi ký hợp đồng lao động, người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc làm thử trong một thời gian nhất định. Vậy sau khi hết thời gian thử việc mà người lao động không đạt, doanh nghiệp có được yêu cầu thử việc lần hai không?

    1. Được ký hợp đồng thử việc 2 lần với 2 công việc khác nhau

    Theo khoản 1 Điều 24 Bộ luật Lao động (BLLĐ) 2019, người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc ký hợp đồng thử việc.

    Đồng thời, căn cứ Điều 25 BLLĐ năm 2019:

    Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

    – Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp;

    – Không quá 60 ngày đối với công việc cần trình độ cao đẳng trở lên;

    – Không quá 30 ngày đối với công việc cần trình độ trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;

    – Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.

    Theo đó, người sử dụng lao động và người lao động chỉ được thử việc 01 lần đối với 01 công việc bằng cách ký hợp đồng thử việc hoặc thỏa thuận về nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động.

    Tuy nhiên, pháp luật không cấm thử việc nhiều lần với nhiều công việc khác nhau tại cùng một doanh nghiệp. Đồng nghĩa với đó, người sử dụng lao động và người lao động hoàn toàn có thể ký hợp đồng thử việc 02 lần với hai công việc khác nhau.

    Vì vậy, trường người lao động hết thời gian thử việc mà vẫn không đạt yêu cầu của vị trí việc làm thì người sử dụng lao động vẫn có thể yêu cầu ký hợp đồng thử việc với các công việc khác mà người lao động chưa làm thử.

    Tuy nhiên, dù được phép ký nhiều hợp đồng thử việc dành cho nhiều vị trí khác nhau nhưng người sử dụng lao động vẫn cần đảm bảo về thời gian thử việc đối với từng công việc theo quy định nêu trên.

    Xem thêm : Doanh nghiệp có được ký hợp đồng học việc?

    2. Yêu cầu thử việc 2 lần cùng 1 công việc, doanh nghiệp bị phạt nặng

    Như đã phân tích ở trên, doanh nghiệp chỉ được yêu cầu thử việc 01 lần với một công việc, đồng thời phải đảm bảo thời gian thử việc tối đa theo quy định.

    Khi kết thúc thời gian thử việc, doanh nghiệp phải thông báo kết quả cho người lao động theo Điều 27 BLLĐ 2019. Theo đó, có hai trường hợp xảy ra:

    – Thử việc đạt yêu cầu: Ký hợp đồng lao động (với trường hợp ký hợp đồng thử việc) hoặc tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động (nếu thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động).

    – Thử việc không đạt yêu cầu: Chấm dứt hợp đồng lao động đã ký hoặc hợp đồng thử việc.

    Như vậy, nếu người lao động sau thời gian thử việc mà không đạt yêu cầu đối với vị trí việc làm thì phải chấm dứt hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã ký. Nếu các bên tiếp tục ký thêm hợp đồng thử việc với công việc đó thì người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt hành chính theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 28/2020/NĐ-CP:

    Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

    a) Yêu cầu người lao động thử việc quá 01 lần đối với một công việc;

    b) Thử việc quá thời gian quy định;

    Theo đó, nếu doanh nghiệp yêu cầu người lao động thử việc 2 lần trở lên với cùng một công việc sẽ bị phạt tiền lên đến 05 triệu đồng. Cùng với đó, người sử dụng lao động còn buộc phải trả đủ tiền lương của công việc đó cho người lao động (căn cứ điểm a khoản 3 Điều 9 Nghị định 28/2020).

    Tóm lại, doanh nghiệp chỉ được ký hợp đồng thử việc 02 lần với 02 công việc khác nhau.

    Xem thêm : Quy định về thử việc áp dụng từ năm 2021

    Theo Luatvietnam

  • Hợp Đồng Đào Tạo: 3 Điểm Người Lao Động Cần Lưu Ý

    Hợp Đồng Đào Tạo: 3 Điểm Người Lao Động Cần Lưu Ý

    Nhằm nâng cao trình độ lao động, nhiều doanh nghiệp đã cử người lao động đi học tại các cơ sở trong và ngoài nước. Tuy nhiên, sau khi được đào tạo, nhiều người lao động lại không thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng đào tạo nghề.

    1. Khi doanh nghiệp cử đi học, người lao động được những gì?

    Trong quá trình làm việc, để nâng cao trình độ, tay nghề, người sử dụng lao động có thể cho người lao động tham gia đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài. Khi đó, các bên phải ký hợp đồng đào tạo nghề và giao cho mỗi bên giữ 01 bản theo khoản 1 Điều 62 Bộ luật Lao động (BLLĐ) 2019.

    Hợp đồng đào tạo nghề do các bên tự thỏa thuận nhưng phải đảm bảo các nội dung chủ yếu sau:

    • Nghề đào tạo;
    • Địa điểm, thời gian và tiền lương trong thời gian đào tạo;
    • Thời hạn cam kết phải làm việc sau khi được đào tạo;
    • Chi phí đào tạo và trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo;
    • Trách nhiệm của người sử dụng lao động;
    • Trách nhiệm của người lao động.

    Với việc ký hợp đồng đào tạo, người lao động sẽ được cử đi học để nâng cao tay nghề trên kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.

    Khi đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 62 BLLĐ năm 2019, người lao động sẽ được người sử dụng lao động chi trả các khoản sau:

    – Chi phí cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học trong thời gian học;

    – Tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người học trong thời gian đi học;

    – Chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian đào tạo (nếu người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài).

    Như vậy, có thể thấy, người lao động khi được cử đi học nghề vừa có thể nâng cao tay nghề không mất chi phí mà còn được hưởng nhiều quyền lợi nêu trên.

    2. Vi phạm hợp đồng đào tạo nghề, người lao động phải bồi thường thế nào?

    Vi phạm hợp đồng đào tạo nghề, người lao động phải bồi thường thế nào
    Vi phạm hợp đồng đào tạo nghề, người lao động phải bồi thường thế nào

    Người lao động sau khi được đào tạo phải làm việc cho người lao động theo đúng thời gian đã cam kết trong hợp đồng đào tạo. Sau đó, không thiếu trường hợp người lao động tự ý bỏ việc , khiến cho các doanh nghiệp không những bị khủng hoảng về nhân sự mà còn bị thiệt hại do mất kinh phí đào tạo.

    Trong trường hợp này người lao động có thể sẽ phải hoàn trả chi phí đào tạo nghề cho người sử dụng lao động.

    Do hợp đồng đào tạo nghề là sự thỏa thuận của các bên nên nếu trong hợp đồng đã nêu rõ trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo thì việc trả lại chi phí sẽ thực hiện theo thỏa thuận. Nếu có quy định về miễn trách nhiệm bồi thường chi phí đào tạo thì người lao động thuộc trường hợp đó sẽ không phải trả lại chi phí này.

    Nếu giữa người lao động và người sử dụng lao động không thỏa thuận một cách rõ ràng về trách nhiệm hoàn trả chi phí đào thì việc hoàn trả chi phí được thực hiện như sau:

    BLLĐ năm 2019 không đặt ra trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 61 Luật Giáo dục và nghề nghiệp 2014 lại quy định:

    Ngư­ời tốt nghiệp các khoá đào tạo do ngư­ời sử dụng lao động cấp học bổng, chi phí đào tạo phải làm việc cho người sử dụng lao động theo thời hạn đã cam kết trong hợp đồng đào tạo; trường hợp không thực hiện đúng cam kết thì phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo.

    Theo đó, người lao động vẫn có trách nhiệm bồi hoàn chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động nếu không làm việc theo đúng thời gian đã cam kết.

    • Trường hợp 2: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

    Theo quy định tại Điều 40 BLLĐ năm 2019, người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật:

    – Không được trợ cấp thôi việc;

    – Phải bồi thường nửa tháng tiền lương và một khoản tiền tương ứng với những ngày không báo trước;

    – Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo.

    Do đó, trong trường hợp này, người lao động cũng phải bồi thường chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động. Có thể thấy, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải có trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo dù đúng luật hay trái luật. Bởi vậy, để tránh tranh chấp xảy ra sau này, các bên khi ký hợp đồng đào tạo nghề cần thỏa thuận rõ các điều kiện phải hoàn trả chi phí đào tạo và trường hợp được miễn trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo.

    3. Có được phạt vi phạm gấp nhiều lần chi phí đào tạo?

    Bên cạnh việc hoàn trả chi phí đào tạo, người lao động có thể còn phải bồi thường thêm khoản tiền do vi phạm hợp đồng nếu trước đó các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm.

    Các bên khi ký hợp đồng đào tạp nghề thường thỏa thuận người lao động sau khi được đào tạo phải cam kết làm việc cho người sử dụng lao động trong thời gian nhất định, nếu vi phạm sẽ phải bồi thường gấp đôi, gấp ba, thậm chí gấp nhiều lần chi phí đào tạo nghề.

    Việc yêu cầu bồi thường do vi phạm dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng cho phép các bên tự do thỏa thuận về phạt vi phạm hợp đồng. Vậy doanh nghiệp được yêu cầu bồi thường tối đa là bao nhiêu?

    Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 không đặt ra mức tối đa đối với phạt vi phạm mà sẽ do các bên tự thoả thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Trong khi đó, Bộ luật Lao động cũng không có quy định nào về vấn đề này. Vì vậy, việc áp dụng mức nào sẽ do sự thỏa thuận của các bên.

    Như vậy, doanh nghiệp có thể thỏa thuận với người lao động về việc phạt vi phạm hợp đồng đào tạo nghề gấp nhiều lần chi phí đào tạo cũng không trái pháp luật. Tuy nhiên, nếu có tranh chấp tại Tòa án, với sự xem xét, cân bằng lợi ích giữa các bên thì mức phạt vi phạm được Tòa án áp dụng có thể thấp hơn so với mức các bên thỏa thuận trước đó.

    Trên đây là những nhận định về mức bồi thường chi phí đào tạo nghề mà người lao động có thể phải hoàn trả cho người sử dụng lao động nếu không làm việc theo đúng cam kết.

    Theo Luatvietnam

  • Quy định mới trả lương qua thẻ ATM từ năm 2021

    Quy định mới trả lương qua thẻ ATM từ năm 2021

    Từ 2021, nhiều quy định mới liên quan đến trả tiền lương qua thẻ ATM của người lao động sẽ được áp dụng, theo tinh thần của Bộ luật Lao động 2019.

    Tại khoản 2 Điều 96 của Bộ luật này quy định trả lương qua thẻ ATM cho người lao động như sau:

    – Lương của người lao động được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân (thẻ ATM) của người lao động được mở tại ngân hàng.

    – Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.

    Như vậy, theo quy định trên thì từ năm 2021, người sử dụng lao động có trách nhiệm phải chi trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương cho người lao động nếu người sử dụng lao động trả lương qua thẻ ATM cho người lao động  mở tại ngân hàng.

    Trước đây, Bộ luật Lao động 2012 quy định: Trường hợp trả lương qua thẻ ATM – tài khoản ngân hàng, thì người sử dụng lao động phải thỏa thuận với người lao động về các loại phí liên quan đến việc mở, duy trì tài khoản (khoản 2 Điều 94).

    Ngoài quy định mới liên quan đến trả lương qua thẻ ATM, Bộ luật Lao động 2019 cũng có một số điểm mới liên quan đến trả lương, thưởng của người lao động, như:

    – Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động ;

    – Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.

    – Trong trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày. Nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.

    – Người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê cho người lao động mỗi lần trả lương;

    – Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động bằng tiền đồng Việt Nam, trường hợp người lao động là người nước ngoài tại Việt Nam có thể bằng ngoại tệ.

    – Thưởng không chỉ bằng tiền mà bằng hình thức khác, căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động…